Bản tin pháp luật tháng 10 – kỳ 01

BẢN TIN PHÁP LUẬT THÁNG 10/2017 – kỳ 1

  • Năm 2018: HĐLĐ từ đủ 01 tháng trở lên phải đóng BHXH bắt buộc
  • Doanh nghiệp phải đền bù thiệt hại do xác định sai giá trị ròng của quỹ hưu trí
  • Quy định mới về nộp báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài (NLĐNN) qua mạng điện tử

Kính chào Quý khách hàng.

            Cập nhật thông tin pháp luật luôn giúp cho Doanh nghiệp được hưởng những chính sách ưu đãi kịp thời, thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh.           

            HGLaw luôn mong muốn Doanh nghiệp thành công và thanh thản trong kinh doanh, luôn mong muốn được đồng hành cùng Doanh nghiệp.

            Trân trọng.

            Tiến sĩ, Luật sư Hoàng Ngọc Giao,

            Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

—————————————————-

  • NĂM 2018: HĐLĐ TỪ ĐỦ 01 THÁNG TRỞ LÊN PHẢI ĐÓNG BHXH BẮT BUỘC

Đây là nội dung mới đáng chú ý tại Khoản 1 Điều 121 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Theo đó, kể từ ngày 01/01/2018, người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng cũng phải tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (hiện nay, đối tượng này không phải tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc).

Cũng từ ngày này, phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

Cụ thể:

“Điều 2. Đối tượng áp dụng

  1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

  1. b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
  2. Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

Điều 124. Hiệu lực thi hành

  1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, trừ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018”.

 

  • DOANH NGHIỆP PHẢI ĐỀN BÙ THIỆT HẠI DO XÁC ĐỊNH SAI GIÁ TRỊ RÒNG CỦA QUỸ HƯU TRÍ:

Đây là nội dung mới được quy định tại Thông tư 86/2017/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 88/2016/NĐ-CP về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện có hiệu lực từ ngày 01/10/2017.

Theo đó, khi doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí xác định sai giá trị tài sản ròng của quỹ hưu trí, xác định sai giá trị tài khoản hưu trí cá nhân và có phát sinh thiệt hại thực tế cho người tham gia quỹ thì:

– Phải đền bù thiệt hại cho người tham gia quỹ theo quy định tại Điều 23 Nghị định 88/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016;

– Mức độ sai sót phải đền bù thiệt hại được quy định tại quy chế xác định giá trị tài sản ròng của quỹ hưu trí và xác định giá trị tài khoản hưu trí cá nhân nhưng không thấp hơn 0,75% giá trị tài sản ròng của quỹ.

Doanh nghiệp có trách nhiệm công bố trên các trang thông tin điện tử của doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí và đại lý hưu trí trong thời hạn tối đa ba ngày làm việc, kể từ ngày định giá, giá trị tài sản ròng của quỹ hưu trí.

  • QUY ĐỊNH MỚI VỀ NỘP BÁO CÁO GIẢI TRÌNH NHU CẦU SỬ DỤNG NLĐNN QUA MẠNG ĐIỆN TỬ:

Đây là nội dung nổi bật được quy định tại Thông tư 23/2017/TT-BLĐTBXH (có hiệu lực từ ngày 02/10/2017) về hướng dẫn thực hiện cấp giấy phép lao động cho NLĐNN làm việc tại Việt Nam qua mạng điện tử.

Theo đó, trước ít nhất 20 ngày kể từ ngày dự kiến sử dụng NLĐNN, người sử dụng lao động phải khai thông tin vào tờ khai và nộp báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài qua mạng điện tử.

Hiện nay, việc nộp tờ khai và báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng NLĐNN được thực hiện trước 30 ngày kể từ ngày dự kiến sử dụng (theo Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2016).

Như vậy, so với quy định nộp hồ sơ giấy báo cáo giải trình như hiện tại thì việc nộp hồ sơ qua mạng điện tử đã rút ngắn thời gian yêu cầu thực hiện đối với người sử dụng lao động.